Đóng cửa với thế giới hay mở cửa để trưởng thành?

Người xem: 373

Lâm Trực@

Trong những ngày gần đây, đề thi Ngữ văn của kỳ thi tốt nghiệp THPT với chi tiết nhắc đến Steve Jobs đã tạo ra không ít tranh luận. Bên cạnh những góp ý chuyên môn về cấu trúc đề thi, mục tiêu đánh giá hay cách đặt vấn đề, xuất hiện một số ý kiến quy kết rằng việc đưa tên một doanh nhân công nghệ người Mỹ vào đề thi là biểu hiện của “sùng ngoại”. Thậm chí, có những lời phê phán nặng nề nhằm vào người ra đề.

Sự tranh luận là cần thiết trong một xã hội dân chủ và một nền giáo dục đang đổi mới. Tuy nhiên, trước khi kết luận một hiện tượng nào đó là “sùng ngoại”, có lẽ cần phân biệt rõ giữa việc ngưỡng mộ mù quáng với tinh thần học hỏi văn minh nhân loại.

Lịch sử phát triển của bất kỳ dân tộc nào cũng là lịch sử tiếp nhận và sáng tạo trên cơ sở những thành tựu chung của loài người. Không một quốc gia nào có thể trở nên hùng mạnh bằng cách khép kín trong biên giới văn hóa của mình.

Ngay từ đầu thế kỷ XX, khi đất nước đang chìm trong ách thực dân, nhiều nhà yêu nước Việt Nam đã nhận thức được rằng muốn cứu nước phải hiểu thế giới. Các phong trào Đông Du, Duy Tân hay Đông Kinh Nghĩa Thục đều xuất phát từ tư duy ấy. Những người như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh không tìm kiếm tương lai dân tộc bằng cách quay lưng với nhân loại, mà bằng cách học hỏi những điều tiến bộ từ bên ngoài để canh tân đất nước.

Đặc biệt, hành trình của Chủ tịch Hồ Chí Minh là minh chứng sinh động nhất cho tinh thần tiếp thu tinh hoa nhân loại. Người đã đi qua nhiều quốc gia, nghiên cứu nhiều học thuyết, nhiều mô hình phát triển khác nhau trước khi tìm ra con đường phù hợp cho cách mạng Việt Nam. Trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1945, Người đã trích dẫn những tư tưởng tiến bộ của nhân loại từ Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp để khẳng định quyền độc lập của dân tộc Việt Nam.

Không ai coi đó là “sùng ngoại”. Trái lại, đó chính là biểu hiện của bản lĩnh văn hóa và trí tuệ chính trị: biết sử dụng những giá trị phổ quát của nhân loại để phục vụ lợi ích dân tộc.

Nhìn từ góc độ văn hóa, bản sắc Việt Nam cũng chưa bao giờ được hình thành trong trạng thái biệt lập. Phật giáo từ Ấn Độ, Nho giáo và Đạo giáo từ Trung Hoa, chữ Quốc ngữ từ hệ chữ La-tinh, cùng vô số yếu tố khác đã được tiếp nhận, chọn lọc và Việt hóa qua hàng trăm năm lịch sử.

Nhà nghiên cứu văn hóa Trần Quốc Vượng từng nhận định rằng sức sống của văn hóa Việt Nam nằm ở khả năng tiếp biến. Dân tộc Việt Nam không tồn tại bằng cách khước từ mọi ảnh hưởng bên ngoài mà bằng khả năng biến cái bên ngoài thành một phần của mình.

Thực tiễn phát triển của thế giới hiện đại càng chứng minh điều đó.

Nhật Bản thời Minh Trị đã cử hàng nghìn trí thức đi học ở phương Tây để hiện đại hóa đất nước. Hàn Quốc sau chiến tranh đã tiếp thu mạnh mẽ khoa học, kỹ thuật và mô hình quản trị tiên tiến từ các nước phát triển. Singapore từ một đảo quốc nghèo tài nguyên đã trở thành trung tâm tài chính toàn cầu nhờ tư duy mở cửa học hỏi tri thức thế giới.

Không ai nói Nhật Bản, Hàn Quốc hay Singapore là những quốc gia “sùng ngoại”. Họ đơn giản là những dân tộc hiểu rằng tri thức không có quốc tịch.

Ngày nay, chiếc điện thoại trong túi chúng ta là kết quả của hàng nghìn phát minh từ nhiều quốc gia khác nhau. Thuốc chữa bệnh, internet, vệ tinh, trí tuệ nhân tạo, công nghệ sinh học hay năng lượng tái tạo đều là sản phẩm của sự hợp tác và kế thừa xuyên biên giới.

Nếu chỉ vì một ý tưởng xuất phát từ nước ngoài mà mặc nhiên phủ nhận giá trị của nó thì đồng nghĩa với việc tự tách mình khỏi dòng chảy tiến bộ của nhân loại.

Điều đáng nói là khái niệm “sùng ngoại” thường bị sử dụng một cách cảm tính.

Sùng ngoại thực chất là thái độ đánh mất năng lực phán xét độc lập, cho rằng cái gì của nước ngoài cũng tốt hơn, văn minh hơn và đáng noi theo hơn. Đó là một biểu hiện của tâm lý tự ti văn hóa.

Nhưng ở chiều ngược lại, bài ngoại cực đoan cũng là một dạng lệch lạc không kém. Đó là tâm lý nghi ngờ, phủ nhận hoặc miệt thị mọi giá trị đến từ bên ngoài chỉ vì chúng không mang nhãn hiệu “nội địa”.

Một bên là tự ti. Một bên là tự mãn.

Cả hai đều xa lạ với tinh thần khoa học.

Bản lĩnh của một dân tộc trưởng thành không nằm ở việc đóng kín cánh cửa trước thế giới mà nằm ở khả năng lựa chọn. Cái tiến bộ thì học hỏi. Cái phù hợp thì vận dụng. Cái chưa phù hợp thì điều chỉnh. Cái sai lầm thì phê phán và loại bỏ.

Chính vì vậy, việc một đề thi nhắc đến Steve Jobs tự thân không phải là bằng chứng của “sùng ngoại”.

Steve Jobs là một nhân vật có ảnh hưởng toàn cầu trong lĩnh vực công nghệ và đổi mới sáng tạo. Đồng ý hay không đồng ý với cách sử dụng hình tượng ấy trong đề thi là quyền của mỗi người. Chúng ta hoàn toàn có thể tranh luận về giá trị giáo dục của đề bài, về mức độ rõ ràng của khái niệm “Steve Jobs Việt Nam”, về khả năng đánh giá năng lực học sinh hay về định hướng của môn Ngữ văn trong bối cảnh hiện nay.

Đó là những tranh luận chuyên môn cần thiết.

Nhưng khi thay thế lập luận bằng việc gắn nhãn “sùng ngoại”, cuộc thảo luận sẽ dễ trượt khỏi bản chất vấn đề. Người ta không còn phân tích đề thi nữa mà chuyển sang công kích cảm xúc và động cơ.

Một nền giáo dục hiện đại không chỉ có nhiệm vụ nuôi dưỡng lòng yêu nước mà còn phải trang bị cho thế hệ trẻ năng lực hội nhập. Học sinh cần hiểu lịch sử dân tộc mình, tự hào về văn hóa dân tộc mình, nhưng đồng thời cũng cần biết thế giới đang vận hành như thế nào và nhân loại đã tạo ra những giá trị gì.

Yêu nước chưa bao giờ đồng nghĩa với khước từ thế giới.

Ngược lại, lịch sử cho thấy những giai đoạn dân tộc phát triển mạnh mẽ nhất thường là những giai đoạn biết mở cửa tiếp nhận tri thức nhân loại trong khi vẫn giữ vững bản sắc riêng.

Bởi vậy, câu hỏi quan trọng không phải là Steve Jobs đến từ Mỹ hay một nhân vật nào đó đến từ Việt Nam. Điều đáng quan tâm hơn là thông điệp giáo dục được truyền tải có hợp lý hay không, cách đặt vấn đề có giúp học sinh phát triển tư duy hay không.

Một dân tộc tự tin không sợ học người khác.

Một nền văn hóa mạnh không lo bị hòa tan chỉ vì tiếp xúc với thế giới.

Và một xã hội trưởng thành sẽ luôn phân biệt được đâu là học hỏi để tiến bộ, đâu mới thực sự là sùng bái mù quáng.

Giữa thời đại toàn cầu hóa, đóng cửa không làm cho bản sắc mạnh hơn. Chỉ có bản lĩnh văn hóa, năng lực chọn lọc và sự tự tin dân tộc mới giúp chúng ta vừa hội nhập sâu rộng với nhân loại, vừa giữ được chính mình.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *