Về bài viết của Nguyễn Vĩnh Hoàng: Hà Nội trong hồ sơ và Hà Nội trong trí tưởng tượng

Người xem: 172

Lâm Trực@

Tôi đọc bài viết của Nguyễn Vĩnh Hoàng về dự án Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng khá chậm. Không phải vì bài dài. Thực ra nó không dài lắm. Tôi đọc chậm vì càng đọc tôi càng có cảm giác người viết và tôi đang nhìn vào hai thành phố khác nhau. Một Hà Nội hiện lên trong bài viết của Nguyễn Vĩnh Hoàng là một Hà Nội đang chuẩn bị đẩy người dân ra khỏi nơi ở của họ bằng những khoản đền bù rẻ mạt, san phẳng những ngôi làng cổ, bức tử di sản và thay thế tất cả bằng những khối bê tông vô hồn. Một Hà Nội khác hiện lên trong các quyết định, báo cáo và hồ sơ mà tôi có dịp đọc lại trong mấy ngày gần đây lại là một thành phố đang huy động nguồn lực rất lớn để xử lý những tồn tại kéo dài hàng chục năm ở khu vực ven sông, đồng thời chuẩn bị các phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư trước khi triển khai dự án.

Hai Hà Nội ấy khác nhau đến mức tôi tự hỏi không biết Nguyễn Vĩnh Hoàng đang đọc bộ hồ sơ nào.

Điều khiến tôi chú ý nhất trong bài viết của anh là cụm từ “đền bù rẻ mạt“. Đây là một cụm từ rất mạnh. Nó có khả năng tạo ra phản ứng cảm xúc gần như tức thì. Người đọc nhìn thấy chữ “rẻ mạt” là lập tức nghĩ tới bất công. Nhưng khi đọc hết bài, tôi không tìm thấy bất kỳ con số nào chứng minh cho nhận định ấy. Không có một quyết định bồi thường nào được dẫn ra. Không có một phương án hỗ trợ nào được phân tích. Không có một mức giá nào được đối chiếu với giá thị trường. Chỉ có một kết luận được lặp lại nhiều lần để người đọc cảm thấy nó hiển nhiên đúng.

Tôi vốn làm nghề nghiên cứu đủ lâu để biết rằng kết luận không thể thay thế chứng cứ.

Trong khi Nguyễn Vĩnh Hoàng nói về sự “rẻ mạt”, thì những tài liệu về giải phóng mặt bằng của Hà Nội ngày 18/5/2026 lại cho thấy một câu chuyện khác. Chỉ riêng dự án Vành đai 2,5 đoạn Đầm Hồng – Nguyễn Trãi đã công khai phương án bố trí đủ 500 căn hộ tái định cư và 220 thửa đất tái định cư cho các hộ dân thuộc diện ảnh hưởng. Tại thời điểm báo cáo, 720 trên 720 trường hợp đã được công khai dự thảo phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; 245 trường hợp đã được phê duyệt phương án và chi trả hơn 262 tỷ đồng. Cùng dự án ấy, đoạn Ngụy Như Kon Tum – Nguyễn Trãi đã được thành phố chấp thuận bố trí khoảng 360 thửa đất tái định cư và 150 căn hộ tái định cư theo các văn bản số 1691/UBND-NNMT ngày 22/4/2026 và 6442/VP-NNMT ngày 14/4/2026. Đoạn Yên Hòa của tuyến đường cũng đã được bố trí quỹ đất tái định cư cụ thể tại các ô quy hoạch F/NO3 và GS1-1. Những con số này không phải lời hứa trên mạng xã hội mà là những phương án đang được triển khai trên thực địa.

Tôi không ngây thơ đến mức cho rằng cứ có phương án là mọi việc sẽ hoàn hảo. Không ai nên nghĩ như vậy. Nhưng tôi cũng không hiểu bằng cách nào một hệ thống đang chuẩn bị hàng nghìn căn hộ và hàng nghìn lô đất tái định cư lại bị mô tả như thể đang tìm cách bỏ mặc người dân sau giải tỏa. Muốn khẳng định điều đó, cần nhiều hơn những tính từ gây phẫn nộ.

Nguyễn Vĩnh Hoàng còn viết rằng người dân bị buộc phải hy sinh vì lợi ích của “ai đó”. Cách dùng cụm từ này cũng khá quen thuộc. Nó tạo ra cảm giác có một thế lực bí mật đang hưởng lợi nhưng lại không phải chịu trách nhiệm chứng minh thế lực ấy là ai. Tôi để ý thấy trong các phụ lục về những dự án lớn đang triển khai, thành phố liên tục ban hành các quyết định riêng về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư độc lập. Ngày 22/3/2026, UBND thành phố ban hành Quyết định số 1248/QĐ-UBND chấp thuận chủ trương thực hiện dự án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư độc lập phục vụ triển khai Công viên công cộng Phú Thượng thuộc Dự án Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng. Cũng trong ngày 22/3/2026, Quyết định số 1249/QĐ-UBND được ban hành đối với dự án Khu đô thị đa mục tiêu tại Thư Lâm và Đông Anh. Trước đó, ngày 31/3/2026, UBND phường Hoàng Mai phê duyệt dự án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư độc lập phục vụ Khu phức hợp y tế – chăm sóc sức khỏe người cao tuổi của Đại học Y Hà Nội. Đọc những văn bản ấy, tôi thấy một bộ máy hành chính đang phải dành rất nhiều công sức cho việc giải quyết quyền lợi của người dân trước khi triển khai dự án, chứ không thấy hình ảnh một cuộc “cướp đất” giản đơn như cách một số người mô tả.

Điều làm tôi ngạc nhiên hơn là cách Nguyễn Vĩnh Hoàng mô tả dự án như một cuộc bê tông hóa khổng lồ. Trong bài viết của anh, những ngôi làng cổ ven sông gần như đã bị kết án tử hình. Những công trình tương lai gần như chỉ còn là bê tông, kính và thép. Nhưng báo cáo tiến độ ngày 18/5/2026 về chính dự án này lại cho thấy hạng mục đang được ưu tiên triển khai là Công viên công cộng Phú Thượng. Thành phố đã giải phóng mặt bằng khoảng 5,04 ha trên tổng diện tích gần 20 ha để khởi công công viên và báo cáo cũng ghi nhận không có vướng mắc về chính sách giải phóng mặt bằng và tái định cư. Tôi đọc đi đọc lại vẫn không hiểu bằng cách nào một công viên công cộng lại có thể trở thành bằng chứng của bê tông hóa trong trí tưởng tượng của một số người.

Càng đọc, tôi càng nhận ra rằng bài viết của Nguyễn Vĩnh Hoàng thực chất không phải một bài phân tích quy hoạch. Nó là một bài viết chính trị được khoác áo phản biện quy hoạch. Nếu mục tiêu chỉ là bảo vệ quyền lợi người dân, người ta sẽ hỏi mức bồi thường bao nhiêu, quỹ tái định cư ở đâu, điều kiện tái định cư như thế nào, cơ chế giám sát ra sao. Nhưng ở đây, những câu hỏi ấy gần như không xuất hiện. Thay vào đó là một kết luận được dựng lên từ đầu: chính quyền đối lập với người dân, phát triển đồng nghĩa với tước đoạt, quy hoạch đồng nghĩa với phá hoại.

Đó là lý do tại sao anh có thể ca ngợi kinh nghiệm Trung Quốc bằng vài dòng ngắn ngủi nhưng lại bỏ qua hàng chục năm tranh chấp đất đai, khiếu kiện và những cuộc xung đột xã hội mà chính quá trình đô thị hóa ở nước này từng tạo ra. Một ví dụ chỉ có giá trị khi nó được kể đầy đủ. Chọn phần đẹp nhất của nơi khác để đối chiếu với phần xấu nhất mà mình tưởng tượng về quê hương chưa bao giờ là một phương pháp nghiên cứu nghiêm túc.

Tôi không viết những dòng này để nói rằng Hà Nội không có sai sót hay khiếm khuyết. Một thành phố hơn chục triệu dân, đang triển khai đồng thời hàng loạt dự án quy mô lớn, chắc chắn sẽ có những vấn đề cần được giám sát. Công tác giải phóng mặt bằng cần minh bạch. Chính sách đền bù cần công bằng. Quyền lợi người dân cần được bảo vệ. Đó là điều không phải bàn cãi.

Nhưng giữa giám sát và xuyên tạc là hai việc khác nhau. Giữa phản biện và định kiến cũng là hai việc khác nhau.

Nguyễn Vĩnh Hoàng có quyền không đồng ý với dự án. Anh có quyền đặt câu hỏi với chính quyền. Anh có quyền nghi ngờ các cam kết được đưa ra. Nhưng khi những quyết định, những báo cáo và những con số đang cho thấy một bức tranh khác, thì anh cũng có nghĩa vụ tối thiểu là phải đối diện với những dữ liệu ấy. Bỏ qua toàn bộ những gì không phù hợp với kết luận của mình rồi gọi đó là phản biện thì thực ra chỉ là một cách lựa chọn sự thật.

Đọc hết bài viết của Nguyễn Vĩnh Hoàng rồi đọc lại những hồ sơ liên quan đến dự án sông Hồng, tôi đi đến một cảm giác rất đơn giản. Nguyễn Vĩnh Hoàng không thực sự tranh luận với dự án Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng. Anh đang tranh luận với một dự án khác, một Hà Nội khác, một phiên bản của thành phố được dựng lên từ những giả định bi quan nhất nếu không muốn nói là xuyên tạc hay bịa đặt. Còn Hà Nội đang tồn tại trong các hồ sơ, các quyết định và các phương án triển khai thực tế lại là một câu chuyện khác hẳn. Và giữa hai Hà Nội ấy, điều người đọc cần nhất có lẽ không phải là sự phẫn nộ, mà là sự tỉnh táo.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *