Lâm Trực@
Có những lập luận sai trái không đơn thuần xuất phát từ sự ấu trĩ về tri thức, mà nằm ở chỗ chúng khoác lên bộ áo lý luận để che đậy một ý đồ chính trị lệch lạc. Bài viết của Lê Việt Đức thuộc chính loại này. Bằng cách tô vẽ thực dân như một lực lượng “khai hóa” và hạ thấp năng lực, phẩm chất dân tộc Việt Nam, tác giả hướng dư luận vào một cái bẫy tư tưởng: đánh tráo lịch sử, phủ nhận chính nghĩa của cuộc đấu tranh giành độc lập và gieo rắc mặc cảm tự ti dân tộc. Đó là điều không thể dung thứ.

Tư tưởng nguy hiểm bắt đầu từ việc tán dương thực dân Pháp như lực lượng “mang văn minh đến Việt Nam”, “xây dựng bằng tiền của họ”, “đào tạo trí thức tốt hơn Việt Nam tự làm trong 80 năm độc lập”. Luận điệu này không chỉ sai về bản chất thực dân mà còn xúc phạm trực tiếp đến hy sinh của hàng triệu người Việt Nam đã ngã xuống trong gần một thế kỷ chống ách đô hộ của thực dân Pháp. Sự thật trái ngược hoàn toàn: toàn bộ các công trình, dự án, đường sá và hệ thống đô thị mà Pháp thực hiện ở Việt Nam đều được chi trả bằng mồ hôi, máu và tài sản của chính người Việt. Nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu đã chỉ rõ rằng mọi khoản “đầu tư” của Pháp đều đến từ ngân sách thuộc địa, mà nguồn ngân sách ấy lại được vắt kiệt thông qua chính sách sưu cao thuế nặng, độc quyền rượu, muối, thuốc phiện, thuế thân, bắt phu, cướp ruộng đất và khai thác tài nguyên với cường độ tàn bạo.
Để hiểu quy mô bóc lột, chỉ cần nhìn vào số liệu. Năm 1938, Đông Dương sản xuất gần 60.000 tấn cao su, một con số khổng lồ thời bấy giờ. Lợi nhuận xuất khẩu gần như hoàn toàn chảy vào túi tư bản Pháp, còn người lao động Việt Nam thì chết hàng loạt trên các đồn điền do lao dịch, bệnh tật và ngược đãi. Than đá Hòn Gai, kẽm, thiếc, vàng, gạo đồng bằng Bắc Bộ, gỗ rừng Trường Sơn… tất cả đều được đưa về Pháp hoặc xuất khẩu phục vụ kinh tế mẫu quốc. Không chỉ của cải bị lấy đi, Việt Nam còn phải trả bù thâm hụt ngân sách của Pháp trong các giai đoạn chiến tranh, nghĩa là người Việt không chỉ bị bóc lột mà còn phải gánh cả chi phí cai trị của kẻ xâm lược. Sự thật ấy đủ để bác bỏ hoàn toàn luận điệu “tổng tài sản Pháp lấy đi không là gì so với những gì họ làm được”.
Nhưng tài sản vật chất chưa phải điều lớn nhất nhân dân Việt Nam bị cướp mất. Đo bằng cái gì những sinh mạng đã mất vì nạn đói 1944–1945, một thảm họa có lịch sử ước tính từ 400.000 đến 2 triệu người chết. Đây không phải là thiên tai đơn thuần mà là hậu quả trực tiếp của chính sách thuộc địa: cưỡng ép thu mua lúa gạo, chặt lúa trồng đay phục vụ chiến tranh, kiểm soát vận chuyển lương thực. Đo bằng cái gì hàng trăm nghìn sinh mạng người Việt ngã xuống trong cuộc kháng chiến chống Pháp 1946–1954? Đo bằng cái gì những thế hệ bị cưỡng bức lao động khổ sai, những gia đình bị tịch thu ruộng đất, những phụ nữ bị chà đạp nhân phẩm trong các nhà tù và đồn bốt? Một hệ thống bóc lột toàn diện mà Lê Việt Đức lại tô vẽ thành “công trạng”, ấy là sự ngụy biện có chủ đích, không thể xem là nhầm lẫn vô tư.
Không dừng lại ở đó, tác giả còn bôi nhọ thành quả cách mạng khi cố gán cho chính quyền Việt Nam sau 1954 là “làm Hà Nội suy bại”, mà cố tình quên đi bối cảnh lịch sử khốc liệt: miền Bắc bị chiến tranh phá hoại nặng nề; Hà Nội chịu hàng nghìn tấn bom Mỹ; cả nước dồn sức người sức của cho cuộc kháng chiến giải phóng miền Nam. Vậy mà giữa khói lửa ấy, Nhà nước Việt Nam vẫn bảo tồn kiến trúc Pháp, trùng tu các công trình như Nhà hát Lớn, Phủ Chủ tịch, Ngân hàng Nhà nước, khu phố Pháp… để chuyển hóa dấu tích thực dân thành di sản văn hóa phục vụ chính nhân dân Việt Nam. Chính Hà Nội được UNESCO trao danh hiệu “Thành phố vì Hòa bình” năm 1999. Một đô thị “suy bại” liệu có thể được thế giới vinh danh như vậy?
Nguy hiểm hơn là luận điệu chia rẽ giai tầng khi tác giả dựng lên hình ảnh “Hà Nội thanh lịch bị phá bởi người nhập cư nghèo”. Đây là cách kích động hận thù vùng miền, miệt thị giai cấp, xuyên tạc chính sách tiếp quản Thủ đô năm 1954, khi hàng vạn cán bộ, chiến sĩ và người lao động từ mọi miền đất nước ra Hà Nội gánh vác nhiệm vụ lịch sử: xây dựng Thủ đô trong điều kiện vô cùng thiếu thốn. Họ là những người đã chiến đấu, hi sinh, chứ không phải là lực lượng phá hoại văn hóa như lập luận ác ý của tác giả.
Không dừng lại ở việc xuyên tạc quá khứ, Lê Việt Đức còn hướng lái dư luận theo mô hình “tây phương hóa tuyệt đối”: rằng chỉ phương Tây mới văn minh, rằng chỉ có đi theo, phụ thuộc vào mô hình ngoại bang mới có thể phát triển. Đó là luận điệu của chủ nghĩa thực dân mới, gieo vào lòng thanh niên Việt Nam cảm giác tự ti, lệ thuộc và sùng bái ngoại bang. Trong khi sự thật hiển nhiên là Việt Nam hôm nay đang phát triển bằng chính sức mình: là nền kinh tế mới nổi hàng đầu châu Á, là quốc gia có chủ quyền, có tiếng nói tại nhiều tổ chức quốc tế, là điểm đến hợp tác chiến lược của các cường quốc, là một phần của G20 mở rộng. Văn hóa Việt Nam đang lan tỏa toàn cầu qua điện ảnh, ẩm thực, nghệ thuật, khoa học. Những thành tựu ấy không phải nhờ “ơn khai hóa” của Pháp, mà nhờ ý chí tự lực, tự trọng và tự cường của dân tộc Việt Nam.
Từ tất cả những phân tích trên, có thể thấy bản chất bài viết của Lê Việt Đức không phải “khen vài biệt thự Pháp” hay “nhìn lại kiến trúc thuộc địa”, mà là một hệ thống lập luận nhằm đánh tráo bản chất xâm lược, hạ thấp vai trò của Nhà nước Việt Nam, phủ nhận nền độc lập mà hàng triệu người đã đổ máu để giành lại. Trong một thời đại mà thông tin có thể bị bóp méo, nơi các thế lực chống phá luôn muốn lợi dụng sự thiếu hiểu biết lịch sử của một bộ phận giới trẻ, những luận điệu như vậy đặc biệt nguy hiểm. Chúng không chỉ xuyên tạc quá khứ mà còn đầu độc tương lai bằng những mặc cảm lệ thuộc và tâm lý tự ti dân tộc.
Lịch sử là tấm gương của nhân loại. Một dân tộc chỉ lớn lên khi nhìn thẳng vào sự thật, chứ không phải khi để kẻ khác tô vẽ sự thật theo ý đồ chính trị. Và sự thật ấy là: thực dân luôn đến để cướp bóc, chứ không bao giờ để khai hóa. Mọi giá trị mà Việt Nam có được hôm nay đều do chính người Việt Nam tạo dựng, bảo vệ và trả giá. Không ai có quyền nhân danh “văn minh” để biện hộ cho kẻ xâm lược hay xúc phạm máu xương cha ông.
Những người tự nhận “thức tỉnh dân tộc” nhưng lại gieo rắc tư tưởng nô lệ chỉ đang dùng ngôn từ hiện đại để lặp lại luận điệu của thế kỷ trước. Còn một dân tộc biết mình là ai, biết quá khứ của mình và biết giá trị của nền độc lập thì không bao giờ sợ hãi trước bất kỳ sự xuyên tạc nào. Vì sự thật không cần tô vẽ; nó chỉ cần được nhắc lại đúng lúc để nhắc chúng ta rằng tự do không bao giờ miễn phí, và phẩm giá dân tộc là thứ không thể đem ra mặc cả với bất kỳ “ánh sáng khai hóa” giả tạo nào.

Tin cùng chuyên mục:
Ngụy biện “khai hóa”: Vạch trần luận điệu tôn vinh thực dân và hạ thấp dân tộc
Làm giả bệnh án: Lợi dụng chính sách nhân đạo
Bên trong ‘phòng khám không biển hiệu’ ở Chương Dương: Những liệu pháp gây tranh cãi
Trả công bằng ma túy: Khi con người tự đánh mất mình